Đẩy mạnh số hóa, phân cấp trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói

Ảnh lễ hội sầu riêng Đắk Lắk 2026 tại quảng trường 10/3 Buôn Ma Thuột
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ đang tạo chuyển biến quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính, cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Với quy trình trực tuyến toàn trình, phân cấp thẩm quyền về cấp xã và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, chính sách mới được kỳ vọng góp phần nâng cao năng lực quản lý, truy xuất nguồn gốc và thúc đẩy xuất khẩu nông sản.
Số hóa toàn trình, giảm chi phí tuân thủ
Theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai và tự chịu trách nhiệm về thông tin kê khai.
Hồ sơ được nộp thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, với thành phần hồ sơ được rút gọn, cơ bản chỉ gồm đơn đề nghị theo mẫu. Quy trình này giúp giảm giấy tờ, hạn chế khâu trung gian, tiết kiệm thời gian đi lại và chi phí thực hiện thủ tục cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh các nguyên tắc không phát sinh thủ tục hành chính mới, bảo đảm công khai, minh bạch và phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất, đóng gói sản phẩm cây trồng.
Đây là bước chuyển quan trọng trong phương thức quản lý ngành nông nghiệp, từ xử lý hồ sơ thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu số. Khi thông tin về vùng trồng, cơ sở đóng gói được cập nhật, lưu trữ và chia sẻ trên hệ thống điện tử, cơ quan quản lý có thêm công cụ để theo dõi, giám sát và phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc.
Một nội dung nổi bật của Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP là phân cấp thẩm quyền tiếp nhận, kiểm tra và cấp mã số về Chủ tịch UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói.
Đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu vào thị trường có yêu cầu về mã số, thời hạn ban hành thông báo cấp mã số tối đa là 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp đăng ký xuất khẩu vào thị trường có yêu cầu về mã số, thời gian giải quyết tối đa là 10 ngày làm việc, tùy thuộc yêu cầu kiểm tra, đánh giá của thị trường nhập khẩu.
Việc đưa thẩm quyền giải quyết về cấp xã giúp rút ngắn quy trình, tăng tính chủ động của chính quyền cơ sở và tạo điều kiện để cơ quan quản lý nắm sát hơn tình hình sản xuất, kinh doanh nông sản trên địa bàn.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường sau đó đã công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật, trong đó có thủ tục cấp, cấp lại mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói thuộc thẩm quyền cấp xã. (ppd.gov.vn)
Chuyển từ tiền kiểm sang tự kê khai và hậu kiểm
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP thể hiện rõ tư duy quản lý mới: trao quyền chủ động cho tổ chức, cá nhân nhưng đồng thời nâng cao trách nhiệm và tăng cường hậu kiểm.
Theo đó, cơ chế tiền kiểm chỉ được áp dụng trong trường hợp thị trường nhập khẩu yêu cầu phải kiểm tra, đánh giá trước khi cấp mã số. Đối với các trường hợp còn lại, tổ chức, cá nhân thực hiện tự kê khai, tự chịu trách nhiệm; cơ quan quản lý tập trung kiểm tra sau cấp mã, giám sát việc duy trì điều kiện và xử lý các hành vi vi phạm.
Điều này đòi hỏi người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp phải chủ động: Ghi chép đầy đủ nhật ký sản xuất, ưu tiên nhật ký điện tử; Kiểm soát sinh vật gây hại và sử dụng vật tư nông nghiệp đúng quy định; Duy trì điều kiện vệ sinh, an toàn tại cơ sở đóng gói; Lưu trữ hồ sơ sản xuất, sơ chế, đóng gói và xuất khẩu; Bảo đảm tính chính xác, thống nhất của dữ liệu đã kê khai.
Trường hợp phát hiện gian lận, kê khai không trung thực, không tuân thủ quy định kiểm dịch thực vật hoặc không duy trì các điều kiện cần thiết, mã số có thể bị kiểm tra, đình chỉ hoặc thu hồi theo quy định. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam, nhất là trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng kiểm soát chặt chẽ chất lượng và nguồn gốc sản phẩm.
Gắn mã số với cơ sở dữ liệu đất đai và truy xuất nguồn gốc
Một điểm mới có ý nghĩa về mặt dữ liệu là vị trí thửa đất đề nghị cấp mã số vùng trồng được xác định theo mã định danh của thửa đất trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.
Đối với những thửa đất chưa có hoặc chưa thể khai thác mã định danh, tổ chức, cá nhân được tự kê khai về diện tích, vị trí. UBND cấp xã có trách nhiệm chỉ đạo xác nhận thông tin trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm.
Dữ liệu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được quản lý trên hệ thống xử lý nghiệp vụ, đồng thời được công khai và kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản cùng các cơ sở dữ liệu liên quan.
Việc này tạo nền tảng để kiểm soát sản phẩm theo chuỗi, từ thửa đất, vùng sản xuất, cơ sở sơ chế, cơ sở đóng gói đến doanh nghiệp xuất khẩu và thị trường tiêu thụ. Về lâu dài, dữ liệu được chuẩn hóa sẽ hỗ trợ xây dựng bản đồ vùng nguyên liệu, phân tích sản lượng, nhận diện rủi ro và nâng cao hiệu quả điều hành ngành nông nghiệp.
Tại Đắk Lắk, việc tuyên truyền và triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP được thực hiện gắn với chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” số hóa dữ liệu, chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sầu riêng với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản.
Theo Kế hoạch số 314/KH-UBND ngày 6/8/2026, chiến dịch được triển khai từ ngày 7/8/2026 đến ngày 7/9/2026, nhằm tập trung nguồn lực xử lý những khó khăn, vướng mắc liên quan đến mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và dữ liệu phục vụ xuất khẩu nông sản. (daklak.gov.vn)
Trong thời gian này, tỉnh ưu tiên rà soát, số hóa và chuẩn hóa dữ liệu đối với: Các mã số vùng trồng sầu riêng đang phục vụ niên vụ năm 2026; Diện tích, vị trí và thông tin chủ thể quản lý vùng trồng; Các cơ sở đóng gói đang hoạt động; Thông tin về doanh nghiệp, hợp tác xã và các chủ thể tham gia chuỗi; Dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường xuất khẩu.

Ảnh lễ hội sầu riêng Đắk Lắk 2026 tại quảng trường 10/3 Buôn Ma Thuột
Dữ liệu sau khi được rà soát, xác minh sẽ được tích hợp lên Bản đồ số nông sản của tỉnh Đắk Lắk, đồng thời kết nối, đồng bộ với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý.
Tổ chức, cá nhân thực hiện nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”
Một trong những yêu cầu quan trọng của chiến dịch số hóa là thực hiện nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”.
Theo đó, tổ chức, cá nhân không phải kê khai lại những dữ liệu đã có và đã được xác minh; các cơ quan, đơn vị không tạo lập quy trình kê khai song song, không yêu cầu cung cấp lại thông tin đã được tích hợp trên hệ thống và không làm phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết.
Để nguyên tắc này đi vào thực tế, dữ liệu phải được rà soát theo hướng đúng, đủ, sạch và sống:
Đúng: Thông tin phản ánh chính xác hiện trạng vùng trồng, cơ sở đóng gói và chủ thể quản lý.
Đủ: Bảo đảm các trường dữ liệu cần thiết phục vụ quản lý, cấp mã số và truy xuất nguồn gốc.
Sạch: Loại bỏ dữ liệu trùng lặp, sai lệch, thiếu căn cứ hoặc không còn phù hợp.
Sống: Dữ liệu được cập nhật thường xuyên khi có thay đổi về diện tích, chủ thể, địa giới, sản phẩm hoặc tình trạng hoạt động.
Đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà còn là yêu cầu về đổi mới phương thức quản lý. Nếu dữ liệu được cập nhật đầy đủ và kịp thời, cơ quan chức năng có thể phát hiện sớm các bất thường, hỗ trợ doanh nghiệp chủ động trong kế hoạch thu mua, đóng gói và xuất khẩu.
Phát huy vai trò của lực lượng khuyến nông cơ sở
Trong quá trình triển khai, Tổ Khuyến nông cộng đồng và lực lượng hỗ trợ tại cơ sở có vai trò quan trọng trong việc đưa chính sách đến gần người dân.
Lực lượng này có thể trực tiếp hướng dẫn nông dân, hợp tác xã: Thực hiện hồ sơ trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia; Xác định và kê khai thông tin vùng trồng; Ghi chép nhật ký sản xuất điện tử; Kiểm soát sinh vật gây hại; Lưu trữ hồ sơ sử dụng vật tư nông nghiệp và cập nhật thông tin khi có thay đổi về diện tích, chủ thể hoặc sản phẩm.
Với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, cầm tay chỉ việc”, hoạt động hỗ trợ tại cơ sở sẽ giúp khắc phục tình trạng người dân còn lúng túng khi tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, nhất là tại các vùng sản xuất tập trung, vùng sâu, vùng xa.
Bên cạnh đó, các địa phương cần tổ chức đối thoại, tọa đàm chuyên đề với sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp xuất khẩu, hợp tác xã và người sản xuất. Đây là kênh cần thiết để tiếp nhận phản ánh, giải đáp vướng mắc và kịp thời điều chỉnh cách thức triển khai phù hợp với thực tế.
Khuyến khích liên kết, hình thành vùng nguyên liệu tập trung
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP cũng tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân, hợp tác xã và doanh nghiệp liên kết hình thành vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn và có khả năng kiểm soát xuyên suốt.
Đối với ngành hàng sầu riêng, việc tổ chức sản xuất theo chuỗi giúp nâng cao hiệu quả quản lý mã số vùng trồng, giảm nguy cơ trộn lẫn sản phẩm, bảo đảm khả năng truy xuất và đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.
Khi người sản xuất, hợp tác xã, cơ sở đóng gói và doanh nghiệp xuất khẩu cùng chia sẻ dữ liệu, trách nhiệm quản lý sẽ không dừng ở khâu cấp mã số mà được duy trì trong toàn bộ quá trình sản xuất, thu hoạch, sơ chế, đóng gói và tiêu thụ.
Đây cũng là cơ sở để nâng cao giá trị thương hiệu sầu riêng Đắk Lắk, mở rộng thị trường và từng bước chuyển từ xuất khẩu theo sản lượng sang xuất khẩu gắn với chất lượng, tiêu chuẩn và uy tín.
Nâng cao trách nhiệm để bảo vệ uy tín nông sản
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP mở ra nhiều thuận lợi về thủ tục, nhưng không đồng nghĩa với việc giảm yêu cầu về chất lượng hay kiểm soát an toàn nông sản.
Ngược lại, cơ chế tự kê khai và hậu kiểm đặt ra yêu cầu cao hơn đối với từng chủ thể trong chuỗi. Một trường hợp vi phạm về kiểm dịch, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, gian lận hồ sơ hoặc sử dụng mã số không đúng quy định có thể ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của cả vùng sản xuất và uy tín của ngành hàng.
Vì vậy, các địa phương cần đồng thời thực hiện tốt ba nhiệm vụ như hướng dẫn rõ: Giúp người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp hiểu đúng quy định, thao tác đúng quy trình; Dữ liệu chính xác: Rà soát, chuẩn hóa và cập nhật thông tin thường xuyên và thực hiện hậu kiểm thực chất: Kiểm tra theo mức độ rủi ro, xử lý nghiêm các vi phạm và thu hồi mã số khi cần thiết.
Với việc số hóa toàn trình, phân cấp về cấp xã, chuẩn hóa dữ liệu và tăng cường hậu kiểm, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP được kỳ vọng tạo nền tảng mới cho quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; đồng thời góp phần xây dựng nền nông nghiệp minh bạch, hiện đại, giảm chi phí hành chính và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 31/7/2026.